.

Lê Vĩnh Khanh mở mối khoa cử cho quê hương

.

Theo Huỳnh Thúc Kháng tự truyện (Anh Minh xuất bản, Huế, 1963) thì Lê Vĩnh Khanh là người mở mối khoa cử cho quê hương để từ đó nơi này xuất hiện nhiều nhà khoa bảng, sĩ phu danh tiếng.

 Đường Lê Vĩnh Khanh thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu và phường Hòa An, quận Cẩm Lệ.
Đường Lê Vĩnh Khanh thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu và phường Hòa An, quận Cẩm Lệ.

Lê Vĩnh Khanh (1819 - 1884) tự là Tử Minh, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam; nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm Quý Mão 1843, ông đậu Giải nguyên, nên thường gọi là Giải Khanh. Năm sau ông đỗ Phó bảng.

Theo Nguyễn Q. Thắng trong cuốn Quảng Nam Đất nước và Nhân vật (NXB Văn hóa, Hà Nội, 1996) thì ông được bổ làm Tri huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, Nguyễn Q. Thắng cũng chú thích rằng, theo Ngô Văn Minh trong Một gia đình yêu nước tiêu biểu (Đặc san Quảng Nam – Đà Nẵng, 1995) thì theo Gia phả, Lê Vĩnh Khanh làm Tri huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Cũng theo sách đã dẫn, Lê Vĩnh Khanh làm quan rất thanh liêm nên bị đồng liêu ghen ghét. Tuần vũ Bình Định lúc đó tuy mới đỗ Cử nhân nhưng nhờ thế lực và lo lót mà tót lên chức Tuần vũ nên rất cay cú với ông, bởi ông chỉ là Tri huyện nhưng đỗ đến Phó bảng. Tương truyền, lúc đó huyện Phù Cát bị mất mùa, nhân dân đói kém, khắp nơi trộm cướp nổi lên. Đang lúc rối rắm, ông lại nhận lệnh triều đình phải theo sứ bộ cùng Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ sang Pháp chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1863). Ông từ chối không đi thì viên Tuần vũ vốn đã sẵn có tư hiềm với ông, liền lén tâu về triều cho rằng ông bất tuân lệnh vua.

Triều đình Tự Đức triệu ông về kinh, buộc ông giải trình về 4 tội: Để cho dân trong huyện bị đói; trộm cướp sinh nhiều; thuế khóa bị chậm trễ; từ chối việc đi sứ sang phương Tây. Được lệnh, ông không về Huế ngay, mà thảo một tờ sớ gửi đi theo đúng thủ tục hành chính. Có điều, khác với lệ thường, trong văn bản, ông chỉ xưng danh mà không xưng “thần” như quy định, đại khái như sau:

“Sở dĩ dân đói là do mất mùa, mà mất mùa là do thiên tai. Mất mùa, dân thiếu ăn mà triều đình không cho chẩn cấp, nên sinh ra trộm cướp. Dân đang đói thì làm sao có tiền để nộp thuế cho đúng kỳ hạn. Còn việc đi sứ sang Tây, thì điều trước hết phải biết tiếng Tây. Qua xứ người mà không biết tiếng nước người thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ”.

Theo Anh Minh trong cuốn Ngũ Hành Sơn chí sĩ (Huế, 1962), thì sau mỗi câu trả lời, ông đều ghi bốn chữ “Khanh hà tội yên”, nghĩa là “Khanh này có tội gì chứ”.

Ngày mùng 2 tháng Giêng năm Giáp Thân (1884), ông bị bệnh và mất tại nhiệm sở, an táng tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, sau đó gia đình di dời về cải táng tại chân đồi Rừng Lớn thuộc Thôn 2 xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Con cháu ông sau này phần lớn đều tham gia phong trào Duy tân, Quang Phục hội ở Quảng Nam. Các con ông là Lê Vĩnh Huy, Lê Quý Liên đều tích cực tham gia phong trào Đông du. Đặc biệt là Lê Vĩnh Huy, một nhà nho có cái nhìn sâu rộng và bao quát về thời cuộc, tích cực tham gia các phong trào yêu nước, các phong trào khởi nghĩa chống Pháp vào những năm đầu thế kỷ XX và đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916.

Các cháu nội ông là Lê Triêm, Lê Duyện… được sang Nhật du học 2 năm, gặp lúc Pháp cấu kết với chính phủ Nhật trục xuất du học sinh Việt Nam ra khỏi Nhật nên họ phải về nước. Năm 1916, Lê Triêm khởi nghĩa tại Tiên Phước, cùng với Trần Huỳnh đem quân tiến đánh đồn Trà My rồi kéo xuống Tam Kỳ bắt tri phủ Tạ Thúc Xuyên. Khởi nghĩa thất bại, cả gia đình Lê Vĩnh Huy bị bắt và lưu đày.

Người dân Tiên Phước vẫn còn truyền tụng tinh thần yêu nước của gia đình danh nhân Lê Vĩnh Khanh. Trang web của Hội Đồng hương Tiên Phước (donghuongtienphuoc.com) chép: “Lê Vĩnh Khanh là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học, ham hiểu biết của người dân xứ Quảng nói chung, người dân Tiên Phước nói riêng. Ông là bậc đại khoa không màng công danh, một mực yêu nước thương dân, chỉ mưu cầu độc lập, dân quyền. Tuy làm quan hưởng bổng lộc của triều đình nhưng trong ông muốn thoát khỏi sự ràng buộc khắt khe của luật lệ phong kiến, muốn cho nhân dân no ấm, thoát khỏi sưu cao, thuế nặng của chế độ phong kiến đương thời”.

Vinh danh những đóng góp cho dân, cho nước của hai cha con Lê Vĩnh Khanh và Lê Vĩnh Huy, năm 2005, UBND tỉnh Quảng Nam đã xếp hạng di tích lịch sử cho hai ngôi mộ này. Đến tháng 11-2011, theo nguyện vọng của Hội đồng gia tộc Lê Tiên Phước, UBND tỉnh Quảng Nam cho di dời mộ Lê Vĩnh Khanh về Đội 1, Thôn 1, xã Tiên Cảnh, để đảm bảo thuận tiện cho việc quản lý, trùng tu, bảo tồn, phát huy giá trị di tích.

Thành phố Đà Nẵng đặt tên ông cho con đường dài 530m, rộng 7,5m và 5,5m, từ đường Nguyễn Công Hoan đến đường Hòa Nam 6 ở khu dân cư Nguyễn Huy Tưởng 1, 2, 3 và khu dân cư Hòa Phát 1, 2, 3, 4, 5, thuộc phường Hòa Minh (quận Liên Chiểu) và phường Hòa An (quận Cẩm Lệ), theo Nghị quyết số 107/2010/NQ-HĐND ngày 3-12-2010 của HĐND thành phố về Đặt, đổi tên đường ở Đà Nẵng.

LÊ GIA LỘC

;
.
.
.
.
.