.

“Để mà đi...” viết những trang đời

Một ban mai bình yên, từ Huế vui mừng nhận tập sách Bên triền sông Ô Lâu, tản văn của Hồ Sĩ Bình(*). “Cảo thơm lần giở…”, mới hay đây là 39 bài viết được chia làm 2 phần: Tạp bút - Tản văn (30 bài) và Những trang rời (9 bài), đã được đăng trên các báo Tuổi trẻ Cuối tuần, Tuổi trẻ Chủ nhật, Cửa Việt, Thanh niên, Thanh niên Chủ nhật, Đà Nẵng Cuối tuần, Tuyển tập nhà văn Việt Nam thế kỷ XX-NXB Hội Nhà Văn… Bút lực sung mãn, giàu sức sống Hồ Sĩ Bình đã tạo cho mình một chỗ đứng đầy uy tín đáng trân trọng trên làng báo chí trong cả nước.

Sinh trưởng từ Võ Thuận, một ngôi làng ở Triệu Phong, Quảng Trị, Hồ Sĩ Bình đã được tưới tắm biết bao nhiêu tình tự quê nhà dấu yêu một thuở; thấm đượm hồn phù sa chơn chất nhân văn dân dã từ mạch nguồn sông Hãn non Mai để từ ấy thành chất liệu sống linh hoạt, phong quang cho những trang đời anh thể hiện rất vi tế, giàu cảm xúc. Các tản văn đã phản ảnh trung thực hồn văn của Hồ Sĩ Bình: “Phố cây bàng”, “Hoang hoải chạt chìu”, “Lão mai của nội”, “Bên triền sông Ô Lâu”, “Sông hoa thành cổ”, “Những người sống với thủy thần”, “Nơi miền đất cù lao”… Và cũng chính từ chốn cũ thân quen mộc mạc ruộng đồng ấy mà khi trở về Hồ Sĩ Bình đã cảm nhận được nguồn thương cảm, sâu sắc, lắng đọng trong đời rồi tiếc nuối: “Cuộc sống đô thị quen cân đong đo đếm nên khi cận kề với nỗi lòng dân dã chân thật đến kỳ lạ mới ngộ ra rằng: ta đã đánh mất nhiều thứ tình cảm quý giá trong đời”.


“Quê quán ơi!
Bao lần trở lại
Trở lại bao lần
Cũng chỉ để mà đi”

(Hồ Sĩ Bình)

“Để mà đi…”, nhưng những cuộc đi của Hồ Sĩ Bình không phải là hành trình vô định. Vốn sống thực tế qua các lần lang bạt kỳ hồ đến nhiều miền, nhiều xứ, từ đô thị phù hoa đến nông thôn hẻo lánh trên quê Việt trong tư thế một nhà báo, Hồ Sĩ Bình đã lần lượt gởi đến bạn đọc muôn phương những tản văn lôi cuốn, sinh động với đầy đủ vị, sắc, thanh hương… Mỗi địa danh Hồ Sĩ Bình nhắc đến trong tập sách “Bên triền sông Ô Lâu” đều gợi lên trong người đọc một cảm giác chung nhất là rất sống động, đầy tình, giàu hình ảnh cùng những nhận định tinh ý có triết lý về người, về đời, có phản biện trước các vấn đề xã hội đang quan tâm, chú ý; giúp người đọc hiểu, cảm và mong một lần tìm đến từng địa danh kia để cùng chan hòa mạch sống, để cùng được trải nghiệm, thưởng thức, đồng cảm, đồng điệu với các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được định hình từ quá khứ cũng như đang được gieo hạt, ươm mầm từ hiện tại này.

Các tản văn “Ký ức xe ngựa”, “Đảo chuông Bà Nà”, “Bụi phấn Đắc Nông”, “Đau với sông Hoài”, “Ngọn đèn năm cũ”, “Tiếng gọi đò Ca Cút”, “Tâm cảm với rượu cần”, “Đường xưa áo lụa”, “Nỗi nhớ hoa hồng”, “Hẹn mùa hoa gạo đỏ”, “Dinh trấn Ái Tử và Trấn Đàng Trong”, “Nếp làng xưa ở hạ nguồn Hương Giang”, “Miếng ngon ở hè phố Hội An”… với bút pháp tài hoa của Hồ Sĩ Bình đã thành những bức tranh đẹp, chân thực có sự tương phản sáng, tối của cảnh; có trong, đục, buồn, vui, cảm hoài, khát vọng của người ở nơi chốn anh qua.

Do có mối quan hệ chân thành, mật thiết trải lòng với bạn bè thân hữu thuộc giới văn nghệ sĩ trong quá trình sống, đi và viết, Hồ Sĩ Bình đã làm cho người đọc thấy sự trân trọng, trìu ái, đồng điệu, thâm tình của anh khi viết về các tác giả: “Hoàng Phủ Ngọc Tường và nỗi đam mê phiêu lãng”, Nguyễn Ngọc Hưng, “Vịn câu thơ đứng dậy”, Đinh Tấn Phước, “Thơ nhặt vội trên đường”, “Họa sĩ Hoàng Đặng - Đời vẽ tôi, tên mục đồng”,   “Huế và Minh”,  Đông Trình, “Những bài thơ viết dưới giàn hoa giấy”… Những nhân vật đã được anh tái hiện một cách trung thực, thành tâm giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về nhân thân, tính cách, tài hoa của từng nhà văn, nhà thơ, họa sĩ.

Tôi tâm đắc với Hồ Sĩ Bình khi đọc những dòng anh viết về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng quê Quảng Trị với tôi, từng có lần tâm sự rằng: “Đất Quảng Trị mình lạ lắm, Hồi mình làm Cửa Việt, người Huế thường về ven thành cổ để mua chanh trong khi Huế không thiếu chanh vì chanh ở mình chua lắm. Tiêu Khe Sanh thì cay và thơm nổi tiếng, ớt thì thuộc loại cay nhất nước ở Triệu Phong, Cam Lộ, còn thơm không đâu ngọt bằng Tân Lâm. Mình là người đã lớn lên, bản chất đã mang nặng tận cùng cái cay đắng, ngọt bùi của quê hương, đã sống thì phải sống đến cùng”. Và cũng nói theo ngôn ngữ của anh. Nỗi buồn là mái nhà nơi mà thi sĩ cư ngụ, có lẽ đằng sau mọi cái làm nên con người anh còn phải kể đến là nỗi buồn vạn cổ”…

Một ban mai bình yên, từ Huế đọc tập sách “Bên triền sông Ô Lâu”, tôi thầm hẹn: “Ô Lâu, mai mốt tôi về! Thời niên thiếu, mình đã từng là học trò đất Quảng…”.

VÕ QUÊ

Huế, Noel 2012


(*) Nhà xuất bản Hội Nhà văn (10-2012).

;
.
.
.
.
.